Chương 2: (Vô Đề)

Vú Đỗ lập tức bịt chặt miệng Ký Nhu, kéo nàng từ cửa sổ trở lại trong khoang xe. Yến Vũ nhảy phắt lên càng xe, vung roi quất mạnh vào mông ngựa, xe lập tức lao đi như tên bắn.

Ký Nhu lắc lư dữ dội trong xe, tuy có bà vú ôm giữ lấy thân, song tay chân nàng vẫn đập loạn vào thành xe, đau rát tựa dao cắt, dạ dày vì thế quặn lên như bị lửa thiêu. Phía sau, tiếng hí dài của bầy ngựa vọng tới, Vú Đỗ khẽ run lên, Ký Nhung biết bà cũng sợ đến mức thất thần. Nàng liền vòng tay ôm chặt lấy vòng eo đẫy đà của vú Đỗ, cắn răng không dám rời tay, chỉ sợ thân thể bị hất văng ra khỏi xe.

"Tiểu thư!" vú Đỗ ghé sát tai nàng thì thầm, giọng run rẩy, "Nếu chẳng may xảy ra bất trắc, bị rơi vào tay địch, người… người hãy cắn đứt đầu lưỡi! Nhớ kỹ… phải cắn thật mạnh!"

Ký Nhu ngơ ngác ngẩng đầu, chỉ thấy gương mặt bà vú ngập tràn nỗi cuồng loạn và tuyệt vọng.

"Ngàn vạn lần chớ khai ra người họ Phùng, cũng đừng để bọn chúng biết phụ mẫu người là ai, nhớ kỹ chưa?" vú Đỗ vội vàng dặn dò, thấy Ký Nhu không đáp, liền nhẫn tâm vặn mạnh vào đùi nàng một cái đau điếng, nghiến giọng: "Nhớ chưa?"

Ký Nhu vội vàng gật đầu lia lịa, thấy bà buông tay ra, trong lòng hoảng loạn, lập tức đưa tay ra kéo lại. Nào ngờ xe ngựa bất ngờ lao vọt về phía trước, thân thể nàng mất đà, va vào cánh cửa xe đã bung lỏng, lăn nhào ra ngoài.

"Bà vú!" Ký Nhu kêu lên kinh hãi, thân hình bị quật mạnh xuống đất.

Trời đất quay cuồng, nàng lăn lông lốc xuống sườn núi phủ đầy gai bụi, đầu nghiêng sang một bên, rồi ngất lịm đi.

Không rõ thời gian trôi qua bao lâu, Ký Nhu mơ màng tỉnh lại, khẽ rên một tiếng. Nàng không màng tới cơn đau nhức bỏng rát khắp thân, liền vịn lấy cây bên đường gượng đứng lên. Nhìn quanh một lượt, nàng phát hiện mình đang ở đáy khe, trên sườn núi cỏ cây bị giẫm nát tơi bời, tán lá rậm rạp đan xen như mái vòm, không thấy bóng dáng xe ngựa hay vú Đỗ đâu cả.

"Bà vú…" Ký Nhu nghẹn ngào gọi khẽ, chỉ nghe tiếng vang vọng lại. Trong lòng nàng run sợ, toan bật khóc, nhưng nhớ lời căn dặn của bà, bèn cắn môi, lặng lẽ ngó quanh. Chợt thấy một dây leo cổ thụ dài từ đỉnh núi buông xuống.

Nếu bám được dây này, ắt có thể leo trở lên. Nghĩ thế, nàng đưa tay kéo nhẹ dây leo, định thử xem có chắc không, thì đột nhiên nghe tiếng xào xạc vang lên, lại có tiếng người hô hoán vọng cả trước lẫn sau.

Ký Nhu hoảng sợ, lập tức nín thở, dán người sát vào vách núi không dám nhúc nhích. Tiếng người xen lẫn tiếng ngựa phì phò, ngay phía trên đỉnh đầu nàng vọng xuống.

Chắc hẳn là toán hắc giáp kỵ binh vừa rồi lội qua sông. Có lẽ Kiến Hỉ vẫn còn trên lưng ngựa. Nhưng không nghe tiếng kêu cứu, chẳng lẽ đã bị đánh ngất? Nàng nhớ lại ánh mắt cầu cứu của Kiến Hỉ trước khi bị bắt, nước mắt tuôn rơi như suối. Từ nhỏ đi theo cha đến nhậm trấn khắp nơi, nên cũng hiểu sơ qua, bọn người kia giọng nói mang âm sắc phương Bắc, y phục khác binh lính triều Lương, ắt hẳn là quân Chu .

Chẳng lẽ chỉ vài ngày ngắn ngủi, quân Chu đã phá được thành Trấn Định mà tiến thẳng xuống phía nam?

Ký Nhu rùng mình một cái, âm thầm tự trách bản thân, rồi nhớ lại lời phụ thân từng nói:

"Thành Trấn Định dễ phòng thủ, khó tấn công, lương thực trong thành luôn đủ đầy. Nếu muốn vây hãm, ít cũng phải nửa năm, nhiều thì hơn một năm."

Nguyện Phật Tổ Bồ Tát phù hộ, cho cha mẹ, vú Đỗ, Yến Vũ và cả Kiến Hỉ được bình an vô sự… Nàng chắp tay khấn vái trời cao, thì chợt nghe trên đầu có tiếng nói, thanh âm rõ mồn một như sát bên tai.

"Xe ngựa bị gãy càng, chắc hẳn ngựa hoảng loạn. Có ai thấy tên đánh xe đâu không?" Một kẻ cất giọng hỏi.

Có kẻ bực bội đáp:

"Ta lúc trước đứng bên sông thấy rõ, xe trong chỉ có một bà già độ năm mươi, người đánh xe là trai trẻ. Giữ chúng lại cũng vô ích, đừng phí công, mau quay về thành thôi!"

Mọi người đồng thanh phụ họa, có lẽ sau đó họ lục lọi được mấy món nữ trang mà phu nhân họ Phùng chuẩn bị cho Ký Nhu, bèn reo hò vui mừng một lát, rồi thúc ngựa bỏ đi.

Lũ ác nhân! Cầu cho các ngươi tay chân thối rữa! Ký Nhung nghiến răng nguyền rủa trong lòng. Vì sợ bọn chúng quay lại, nàng không dám cử động, đến khi tiếng người và vó ngựa hoàn toàn tan biến, mới từ chỗ ẩn mình bên vách núi chậm rãi bước ra, gọi mấy tiếng "Vú Đỗ, Yến Vũ!", nhưng chẳng ai đáp lại. Nàng biết mình đã thực sự lạc mất mọi người rồi.

Nàng khóc một hồi, lấy tay áo quệt nước mắt, nghĩ thầm: "Không biết trong vùng này quân Chu còn bao nhiêu quân lẻ, thôi thì chỉ có thể lần theo hướng về thành Phổ Dương. Nếu tới được cổng thành, báo danh thân phận, chắc có thể cầu được nơi dung thân tạm thời."

Thỉnh thoảng nàng ngước nhìn mặt trời, xác định phương hướng, rồi cất bước về phía bắc.

Thật đáng thương thay cho Ký Nhu, thân là một thiếu nữ yếu đuối, lớn lên trong lầu son gác tía, từ nhỏ nàng được nâng như nâng trứng, đoạn đường dài nhất chỉ từ hậu viện sang thư phòng phụ thân. Giờ gặp cảnh loạn ly, lòng đau như cắt, bước chân xiêu vẹo. Nỗi nhớ thương cha mẹ dồn dập, lại sợ chạm phải quân địch, nàng đành lấy tay che miệng, vừa đi vừa nức nở, từ giờ ngọ đến khi mặt trời khuất bóng, chim mỏi bay về tổ. Nàng khóc đến khản tiếng, đi đến khập khiễng, cuối cùng cũng ra khỏi rừng.

Ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy non xanh mờ mịt, bầu không khí u ám bao trùm , gió chiều thổi qua, cành lá xào xạc như sóng cuộn, nghe như trống trận dồn vang, vạn quân tràn đến. Ký Nhung không dám quay lại nữa, vội vàng chạy mấy bước, bỗng thấy dưới chân núi có một ngôi miếu đổ nát thờ vị Thổ Địa. Miếu đã lâu không được tu sửa, mái hiên giăng đầy mạng nhện, rèm treo cũ nát rách một nửa, thân tượng đất Thổ Địa lớp vàng tróc lở, lộ ra nền đất xám tro.

Dưới điện có một chân đèn ngã nghiêng, bên đế khắc dòng chữ "Phổ Dương huyện tạo vào ngày tháng năm nào đó".

Đã đến ranh giới Phổ Dương rồi! Ký Nhu thấy nhẹ cả lòng, chân mềm nhũn, ngồi phệt xuống đất. Lúc này mới thấy một chân trần, chiếc giày thêu chẳng biết rơi mất từ bao giờ, dưới lòng bàn chân phồng lên hai vết máu bầm lớn bằng quả óc chó, đau rát khôn xiết. Lệ nàng cạn khô, thân thể rã rời, đành lấy tà váy che chân lại, lảo đảo đứng dậy, đi quanh trong miếu. Nàng chỉ tìm thấy một cái chum rỗng, một bình dầu cạn khô.

Không biết tính sao, lại ngại tấm rèm bẩn thỉu, đành mặc nguyên y phục, co ro dưới bàn thờ Phật mà chợp mắt.

Giấc ngủ này, chưa bao giờ say đến thế… Khi nàng tỉnh dậy, thấy ánh trăng xanh nhạt rọi xuống nền đất như phủ một lớp sương bạc, cảnh vật im lặng lạ thường. Không còn tiếng ngáy khe khẽ của vú đỗ cũng như tiếng nghiến răng của Kiến Hỉ. Nền đất dưới thân lạnh toát, gồ ghề đau đớn, từ đầu tới chân, chỗ nào cũng ê ẩm. Nàng nằm ngẩn ra một lúc lâu, mới chợt nhớ: đây không còn là phủ Phùng ở Trấn Định nữa, mà là vùng hoang ngoại thành Phổ Dương.

Nội dung chương bạn đang xem bị thiếu. Vui lòng truy cập website https://truyenabc.com để xem nội dung đầy đủ. Cảm ơn bạn đọc!