Vú Đỗ thở dài một tiếng, nặng nề nói với Triệu Đoan Cô: "Thôi được rồi, lên xe đi! Còn không khởi hành, trời tối sẽ khỏi xuống núi đấy!"
Triệu Đoan Cô lập tức nín khóc, lồm cồm bò lên xe, vừa nắm lấy tay Ký Nhu đã reo lên: "Muội ngoan của ta!"
Ký Nhu cũng mỉm cười đáp lại: "Tỷ tỷ!"
Xe ngựa vừa lăn bánh, Triệu Đoan Cô như trút được tảng đá đè nặng trong lòng, nàng mừng rỡ đến mức nước mắt giàn giụa, rửa trôi cả lớp bụi đất trên mặt, khiến dung nhan lấm lem, nhếch nhác chẳng khác chi kẻ hành khất. Vú Đỗ chậc chậc hai tiếng tỏ ý chê bai, nhưng thấy Ký Nhu hiếm khi nở được nụ cười như thế, cuối cùng không nỡ quở trách , đành nhắm mắt làm ngơ.
Chuyến đi này, Yến Vũ đánh xe lẫn vào dòng dân chạy nạn, men theo quan đạo mà xuôi về phương Nam, lại hết sức thuận lợi. Khi đến Tế Ninh, họ chuyển từ đường bộ sang đường thủy, chọn một chiếc thuyền nhỏ xuôi dòng mà đi. Chưa đầy một tháng, đã đến được vùng Giang Nam.
Vừa khéo gặp đúng mùa mưa dầm Giang Nam, dọc đường ngập trong mịt mù mưa bụi, cảnh vật phủ một màu xanh non mơn mởn, đôi bờ ngói xanh tường trắng tựa như tranh vẽ bị màn sương che phủ, chỉ hiện lờ mờ như họa đồ xưa. Người hướng Nam mà đi, mây cũng theo đó mà trôi xuống phía Nam. Bước sang tháng Bảy, mưa phùn dai dẳng cuối cùng cũng ngớt hẳn, cảnh trí bên bờ cũng lặng lẽ thay đổi, hoa đinh hương vừa tàn, hoa quế bắt đầu nở, mưa đập vào cành lá xanh thẫm khiến những chùm hoa vàng nhạt bay phất phơ, hương thơm ngào ngạt.
Phủ Định Quốc công tại ngõ Minh Kha hiện ra trước mắt với dáng vẻ cao lớn, uy nghiêm. Từng lớp cửa lớn đóng kín ngăn cách tiếng trống nhạc ầm vang trong đại sảnh, chỉ có tiếng tì bà khe khẽ ngân vang từng đợt từng đợt vọng lại trong đêm sâu tĩnh mịch.
Cứ như thế vừa đi vừa nghỉ, đến Kim Lăng đã là tháng Tám. Trận mưa nhỏ vừa dứt, bầu trời trong xanh như được rửa sạch. Ký Nhu khẽ thở ra một hơi, cảm nhận thân thuyền khẽ rung, biết đã cập bến Nam thành Kim Lăng.
Nàng sửa sang dung nhan, rửa mặt chải đầu, đợi vú Đỗ cùng Triệu Đoan Cô thu dọn những bộ y phục bị ẩm mốc vì ngấm nước trong khoang, mỗi người xách lấy hành lý, cả bốn người chủ tớ cùng nhau rời thuyền, bước lên bậc đá nơi bến sông.
Do Yến Vũ đã viết thư gửi trước cho Đại phu nhân phủ Định Quốc công, nên tại bến thuyền đã có hai cỗ xe ngựa mui xanh chờ sẵn. Chờ bốn người lên xe, phu xe liền nhanh nhẹn nhảy lên xe trước, vụt roi ngựa "vút" một tiếng xé gió, tách dòng người đông đúc, hướng thẳng về phủ Định Quốc công trong ngõ Minh Kha phía đông thành.
Hai năm sau…
Phía đông thành Kim Lăng, nhánh núi Tử Kim Sơn kéo dài về hướng tây có một ngọn núi vắng vẻ mang tên Tán Lộ sơn. Trên núi ấy có một am nhỏ hương khói thưa thớt, gọi là Tán Lộ am. Am này không lớn, chỉ là một tiểu viện tứ hợp yên tĩnh. Qua cổng tam quan, nơi treo bức hoành đề bốn chữ "Trạch Huệ Chúng Sinh", liền thấy chính điện thờ tượng Quán Thế Âm Thủy Nguyệt.
Hai dãy đông tây chia ra: một bên là phòng bếp, kho lương và nơi nhóm lửa; bên kia là chỗ ở của các ni cô trong am. Phía sau Phật điện, cách một dải vườn rau và thảo dược, lại có hai ba gian phòng nhỏ xây liền nhau, từ xa trông lại, bị giậu tre rậm rạp dây leo che kín. Đợi đến khi tiết thu thẫm dần, lá xanh héo rụng, qua kẽ giậu mới lộ ra mái tranh tường đất, vách tre mộc mạc tiêu điều.
Sau trận mưa thu cuối cùng, tiết trời trở lạnh. Đoan cô cùng bà vú bàn bạc với nhau, muốn lên xin sư trụ trì một ít củi than để nhóm lửa sưởi ấm trong phòng. Đến sân trước, trông thấy ngoài sơn môn dừng sẵn một cỗ xe ngựa, trụ trì Huệ Vân đang chỉ huy chúng ni chuyển từng thúng lúa, sọt rau, vò gạo, bình sành từ trên xe xuống.
Đoan cô bước tới, không giúp một tay, chỉ khoanh tay đứng ngó. Huệ Vân thấy vậy, vội nở nụ cười nịnh nọt: "Cô đến thật khéo, phủ Từ lại gửi tiết lễ tới. Đây là rau quả chọn kỹ, thuốc quý hiếm, còn có một hòm vải vóc, đều do phu nhân họ La dặn dò riêng, bảo phải chuyển đến cho cô nương nhà mình. Còn lại những đồ sành sứ thô kệch, nghĩ cô nương chắc chẳng dùng đến, xin để chúng tôi giữ dùng vậy."
Đoan cô cười khẩy, vén áo phủi phủi lớp tro bụi trên người: "Mụ già kia, đừng được lợi còn giả bộ khiêm nhường. Cô nương nhà ta dùng được hay không, cũng phải xem qua rồi mới rõ! Mỗi lần phủ chuyển đồ lên, chẳng phải đều để các ngươi chọn trước cả đó sao? Cô nương ở đây tịnh dưỡng hai năm, chẳng thấy khá hơn là mấy, trái lại các ngươi ngày một trắng trẻo, béo tốt.
Nay có người của phủ ở đây, ta không muốn tranh luận với ngươi, mau mau đi kiếm một chậu than sạch ít khói mang tới, cô nương bị phong hàn, cần nhóm lửa sưởi ấm."
Huệ Vân đáp dạ liên tục, phân phó người khiêng hòm lễ chuyển về viện sau, rồi tự mình đi lựa một chậu củi khô đưa cho Đoan cô. Nàng bưng chậu than trở lại hậu viện, thấy Ký Nhu ngồi bên hàng rào tre, đặt một cái giỏ đan lên đầu gối, cúi đầu tỉ mẩn lựa chỉ. Bà vú thì mở từng hòm đồ ra xem, trông thấy trong rương vải có đủ loại lông thú: thỏ xám, chuột bạc, lửng cạn, các loại vải lông dày dặn đều có, liền hài lòng, chọn một tấm da hươu: "Miếng này may đôi ủng thì vừa khéo, chờ có tuyết là mang được."
Đoan cô cũng ghé tới xem, vừa nhìn qua liền dựng ngược đôi mày liễu, tức tối hất cả chậu than xuống đất: "Lúc nãy ta còn thấy có một tấm da hải long bạc kim, quay đi một cái liền không thấy đâu nữa! Chắc chắn bị con hòa thượng trọc Huệ Vân kia chôm mất rồi!" Nói đoạn quay đầu muốn đi tìm Huệ Vân
"Ta phải đòi lại danh sách lễ phẩm theo xe, đối chiếu từng món, xem thử mụ ta giở trò được bao nhiêu lần!"
Bà vú vội ngăn lại, nhặt lấy chậu than, nhét vào tay nàng:
"Có ăn trộm cũng mặc kệ! Chỗ vải trong hòm này cũng đủ chúng ta dùng rồi. Mau đi nhóm lửa đi, tay cô nương lạnh như băng, cái lưng đau của ngươi cũng trở chứng nữa rồi. Còn trẻ thế này, đừng vì cục tức nhỏ mà hại thân thể, giữ sức là chính!"
Đoan cô vừa xoa lưng vừa rầu rĩ quay đi. Lửa nhóm xong, bà vú đổ nước vào ấm đồng, lựa hai quả lê thu rửa sạch, bào nhuyễn lấy nước và xác. Khi nước sôi lăn tăn, bà cho thêm vài lát gừng già, mấy quả táo đỏ, chút cát căn và bối mẫu, đun riu riu suốt mấy canh giờ. Lọc bỏ bã, hòa thêm hai thìa mật ong, để nguội rồi đổ vào hũ sành đậy kín.
Đoan cô nhìn bà vú nấu cao lê , trong đầu vẫn canh cánh chuyện miếng da hải long, cuối cùng nhịn không được nữa, đặt kẹp lò xuống, hỏi:
"Bà vú, nay đã sắp đến Đông chí, lễ tiết cũng chuyển tới rồi, theo ý phu nhân họ La, năm nay vẫn phải ở lỳ trong núi này nữa sao?"
Bà vú lau tay bằng khăn, đáp: "E rằng là vậy."
Đoan cô lườm mắt, bất bình nói: "Phu nhân họ La kia cũng thật là! Dù gì cũng là cô cô ruột, cô nương vượt ngàn dặm tìm về nương nhờ, vốn trông mong bà ta đứng ra chủ trì. Nào ngờ đến cửa phủ Định Quốc công còn không được bước vào! Chỉ một câu "Trấn Định thất thủ, sợ liên lụy đến vua, tạm thời né hiềm nghi", liền đem cô nương giấu vào cái am hẻo lánh này. Thoắt cái đã hai năm, chưa từng mở lời đón về.
Huống chi nay ngai vàng trong hoàng cung Kim Lăng cũng đã bị vua nước Chu chiếm lấy rồi, thiên hạ Đại Lương cũng đã mất cả, cô nương nhà ta dù có mang tội, lẽ nào còn to hơn đám đại thần, thiên tử kia sao?"
"Nhà ai lại nói con gái mình có tội chứ?"
Vú Đỗ ngắt lời nàng. Mỗi lần nhắc đến Ký Nhu, sắc mặt bà liền đổi khác, như gà mẹ xù lông che chở con. Năm dài tháng rộng thức khuya thêu thùa, khiến vầng trán bà hằn rõ nếp nhăn, đôi mắt bị gió làm chảy lệ. Lau tay xong, bà lại rút khăn lụa chấm khóe mắt, nhẹ giọng nói:
Nội dung chương bạn đang xem bị thiếu. Vui lòng truy cập website https://truyenabc.com để xem nội dung đầy đủ. Cảm ơn bạn đọc!