Chương 153: Ngoại truyện 11: Cynphia Sachs

Trước khi tôi biết trên đời này có một thế giới rộng lớn như vậy, và anh đã có danh tiếng lẫy lừng trong thế giới mênh mông đó, thì tôi đã thuộc về anh rồi.

Cha từng là thương nhân giàu có, do vậy các anh trai chị gái cũng có cuộc sống dư dả. Nhưng về sau cả nhà bọn em phải trốn từ Salzburg đến Den Haag. Trong quá trình di chuyển lần này, bọn em đã mất nhà cửa, tất cả tài sản và cả người giúp việc. Em mất piano, gia sư và váy múa ba lê. Bà nội và mẹ em đã vất hết dây buộc tóc và váy vóc của em với các chị, bọn em còn bị cắt ngắn tóc như con trai, bị buộc phải mặc quần áo của các anh chạy trốn. Em với chị nói với mẹ:

Người Aryan* thượng đẳng sẽ không có hứng thú với người Do Thái đâu, nếu không kết cục của bọn họ sẽ tệ hơn cả chúng ta. Tiếc là mẹ không nghe bọn em giãi bày. Cho đến khi thuận lợi tới thành phố Den Haag ở Hà Lan, mẹ mới bắt đầu ủ rũ. Vì đã một thời gian dài nhà bọn em không có tiền mua sắm đồ mới.

(*Một nét đặc trưng nổi bật của Đức Quốc Xã là vấn đề phân biệt chủng tộc, đặc biệt là bài Do Thái. Các dân tộc German (chủng tộc Bắc Âu) được cho là chủng tộc Aryan thuần khiết nhất, do đó là chủng tộc thượng đẳng. Hàng triệu người Do Thái và các nạn nhân khác, bất kỳ ai mà Đức Quốc xã cho là đáng ghét, hạ đẳng, đã bị khủng bố và tàn sát trong cuộc diệt chủng Holocaust.)

Ngay từ đầu cảnh túng bần này khiến em vừa xấu hổ lại vừa khó chịu, vì khi đó em đã 14 tuổi rồi; nhưng em cũng lấy làm may mắn, vì vào năm mình 14 tuổi đó, người giúp chúng em trốn thoát là một người cực kỳ cực kỳ đặc biệt trên thế giới này.

Nói cho đúng là một người đàn ông trưởng thành rất đặc biệt.

Trải qua chặng đường hơn một ngàn km, bọn em đã thay đổi bảy phương tiện giao thông, bị tin tức phía trước truyền tới dọa sợ không thôi. Lúc rời khỏi Bretton đến Wildt, cả nhà em đã đi qua Liechtenstein, Thụy Sĩ, Pháp, Luxembourg và Bỉ, vòng qua toàn bộ nước Đức, tới khi sắp sửa tiến vào biên giới Hà Lan thì bọn em chỉ có thể ngủ trên một cỗ xe đông đúc chật chội, thậm chí có người còn không thể nằm dài.

Màn đêm sắp buông, chị hai trùm chăn khóc nức nở. Chị nói đã đi qua năm quốc gia mấy chục thành phố, đi trên đường mà chẳng có một người đàn ông nào nhìn mình, một lần cũng không! Em mới an ủi chị là ít nhất cũng không phải cạo trọc đầu như người bị rận. Chị ấy nghĩ rồi lại khóc tiếp. Chị ấy nói, không mua nổi nội y, kiểu gì bọn em cũng sắp trở thành đàn ông thực thụ.

Chị lớn thì không nói gì. Chị ấy đã như vậy lâu lắm rồi. Chỉ có em biết chị đã mãi mãi mất liên lạc với người mình yêu, có lẽ đây cũng là cách tốt nhất, bởi vì người đàn ông tuấn tú đó là một sĩ quan SS*. Bọn em căm thù anh ta đến tận xương tủy, nên em cũng không thể an ủi chị ấy được. Em quấn chặt chăn rúc vào trong vách tường, chừa chỗ trống cho chị ấy khóc.

(*SS là viết tắt của Schutzstaffel, là tổ chức vũ trang của Đảng Quốc xã.)

Em cũng chẳng vui gì. Cảm giác bị người ta coi là kẻ xấu xa, bị xua đuổi từ quê nhà thực sự rất tồi tệ. Ba tháng qua là quãng thời gian đen tối nhất trong cuộc đời em, khiến ngày em mười lăm tuổi cũng sụp đổ, do đó mà dù đi đến đâu cũng toàn một màu xám xịt, mãi tới khi em nghe thấy âm thanh êm tai từ bên ngoài truyền đến.

Đó là một ngôn ngữ mà em không hiểu. Câu nói ấy bao gồm các âm tiết đơn âm, rất ngắn, chỉ dừng lại trong tâm trí em một lúc rồi nhanh chóng biến mất, nhưng sau đó đột nhiên có tiếng kèn vang lên. Là một bài hát ru. Không biết là do âm thanh của anh quá dễ nghe hay là âm nhạc vang lên sau đó êm tai, tóm lại trong khoảnh khắc đó, toàn bộ sự tò mò của một cô gái như em đã bị khơi dậy. Trong xe tối tăm không thấy gì, chỉ có mỗi tia sáng ấm áp xuyên qua khe hở từ rèm cửa chiếu vào.

Nhìn trộm thực sự không phải là điều mà người đẳng cấp có thể làm, nhưng em quả thật đã làm vậy —— sự xấu hổ vào lúc đó đã không át được sự tò mò của em về âm thanh ấy.

Ngay lúc đó khi em mở cánh cửa gỗ hẹp, vừa nhìn ra ngoài thì anh cũng ngoảnh đầu lại. Không, không phải nhìn em, mà là nghiêng người sang nhìn người đàn ông trung niên đang thổi kèn kia, có lẽ là người hầu của anh. Có lẽ anh sẽ không bao giờ biết em đã chìm đắm vào ánh mắt và nụ cười của anh thế nào, cũng bởi vì trong khoảnh khắc đó, trong thế giới tối tăm của một cô gái Do Thái không giáo dục không nhà cửa như em đã được thắp lên một tia sáng.

Chắc hẳn anh sẽ cười nhạo lý do em ngưỡng mộ anh – vì nghe nó có vẻ đột ngột vớ vẩn mà, nhưng có lẽ đến chính anh cũng không biết, khóe miệng anh cong lên khi cười và đôi mắt anh tập trung khi lắng nghe người ngoài nói chuyện quyến rũ đến đâu. Trong tích tắc ấy em đã nghĩ, nếu anh nhìn em với ánh mắt đó, nếu như trong mắt anh có em, thì chắc chắn em sẽ đắm chìm mất…

Rồi sau đó anh ngoái đầu lại, em nhìn thấy ánh sáng dịu nhẹ của đèn đường phản chiếu trong mắt anh. Em không nhìn rõ dung mạo của anh, nhưng em có thể cảm nhận được hơi thở nước lạ trong cử chỉ của anh, cùng với ánh sáng trong mắt anh, và cả thanh âm còn êm tai hơn âm nhạc kia nữa. Âm R anh phát ra khiến em biết anh đã ở Berlin một thời gian dài, anh hỏi em bằng tiếng Đức, "Ông Walter thổi kèn rất hay đúng không?"

Khi đó em không biết giọng mình phát ra từ lồng ngực như thế nào. Lúc này em mới hiểu vì sao chị hai lại xấu hổ vì trang phục của mình đến vậy. Hai má em đỏ ừng, may mà anh không thấy gì. Em không có sở trường, thậm chí cũng không thể tự xưng là một cô gái, em chỉ biết khoe với anh là: "Tôi biết nói tiếng Anh."

Cả anh và người hầu Walter của mình bật cười. Thành thật mà nói thì em có hơi tức giận, không phải vì anh mà là vì bản thân em. Lời nói của em cứ như một đứa trẻ vậy, chính vì thế nên mới khiến các anh tưởng em ngây thơ ngốc nghếch. Nhưng vào giây phút này, ở trước mặt anh sự ngây thơ đó chỉ là thừa thãi, khiến em không thể ngẩng đầu lên được.

Anh nhận ra hình như em không được vui cho lắm. Anh tưởng em nhớ sữa và phô mai Áo, thời tiết ở đó bao giờ cũng rất đẹp. Anh nói với em Den Haag rất lạnh, ngay trong đêm hè cũng không thể nhìn thấy sao, gió từ biển Bắc thổi đến vừa lạnh vừa khô hanh. Anh còn nói với em là em nhất định có thể hiểu được tiếng Hà Lan, vì phát âm rất vui vẻ thoải mái, còn âm điệu lại như biến thể âm tăng của tiếng Đức.

Anh vẫn đùa em với giọng điệu như dỗ trẻ con, bắt chước giọng Hà Lan với giọng điệu hài hước có sẵn, nhưng lại không khiến người ta thấy ghét, thế nên trong mấy năm dài khi nghe thấy tiếng Hà Lan là em lại lập tức nhớ đến anh, dù người ngoài luôn nói, giọng điệu đó như thể chế giễu những người Do Thái vô gia cư chúng em vậy

Chẳng mấy chốc có người gọi tên anh, may mà không phải là bằng ngôn ngữ mà em không hiểu.

Anh Tư, anh Tư. Em lẩm bẩm tên anh, ánh mắt dõi theo anh trong đám đông. Ánh sáng quá tù mù, nếu không em không tin là anh không nhìn thấy được khao khát trong đáy mắt em.

Mẹ bật cười khúc khích, "Cynphia, con có biết người đàn ông đó là ai không?"

Ngoài cửa sổ bắt đầu đổ mưa, ông Walter giơ chiếc ô màu đen che cho anh, anh cũng mặc áo che gió màu đen, cùng người hầu của mình tiến vào màn đêm tối tăm, và rối biến mất trong đám đông. Em nhìn vào màn đêm ngoài kia, nhớ đến đôi mắt sáng bừng và nụ cười dịu dàng của anh, đầu óc chợt trống rỗng. Em nghe thấy mẹ nói tên anh gần giống tên tiếng Anh: "Vanir Si." Em mới hỏi mẹ: "Anh ấy là người Ý ạ?"

Bà nói không, "Là người Trung Quốc."

"Nhưng tại sao anh ấy lại có một cái tên như vậy?"

"Tiếng Trung quá phức tạp đối với chúng ta, nên chúng ta mới gọi cậu ta như vậy."

Tiếng Trung! Hóa ra là tiếng Trung!

Với đất nước thần bí kia, với phương Đông nhanh chóng thịnh vượng trong vòng mười năm, đáng tiếc là lúc đó tôi chẳng biết gì về nó cả.

Tôi hỏi mẹ tại sao anh lại xuất hiện ở đây. Bà nói với tôi rằng, anh ở đây là vì anh chính là đại sứ Hà Lan. Cho đến hôm nay, anh đã giúp hơn 40.000 người Do Thái đến Hà Lan tị nạn, nhưng danh tiếng của anh ở chính đất nước mình lại không bằng danh tiếng khi ở nước ngoài.

Nội dung chương bạn đang xem bị thiếu. Vui lòng truy cập website https://truyenabc.com để xem nội dung đầy đủ. Cảm ơn bạn đọc!