Chương 87: KẾT

Một cuộc hôn nhân đồng giới có thể gây ra những sóng gió gì trên chính trường? Ở nước Tề, ta có một câu chuyện để kể.

Sự bắt đầu của câu chuyện này có phần dài dòng, bởi ta phải kể từ một vị Hoàng đế của hơn trăm năm trước. Theo phong tục tập quán của hoàng gia nước Tề, sau khi mỗi một vị Hoàng đế băng hà, người kế vị của họ đều sẽ chọn một tôn hiệu thích hợp để truy tôn, như một sự vinh danh cuộc đời người tiền nhiệm. Vị Hiếu Tông này được tôn là Hiếu Tông Chiêu, điều đó có nghĩa là, thời bấy giờ, mọi hành động của Hoàng đế đều được thần dân coi là hợp với Hiếu đạo và xứng đáng để làm khuôn mẫu đạo đức, đồng thời chữ Chiêu còn tiết lộ một điều khác nữa: Hoàng đế có dung mạo rất đẹp, đặc điểm này nổi bật đến mức những lời ngợi ca dung mạo ngài không chỉ là những lời lẽ sáo rỗng thường thấy trong tiểu sử các đế vương. Người ta nói rằng ngài là một vị Hoàng đế thông minh, có tầm nhìn xa, khiêm hòa và gần gũi.

Đường tổ mẫu của Hiếu Tông, Tuyên Tông, dù có hai người con trai, song thọ mệnh của họ đều ngắn hơn rất nhiều so với người mẹ khỏe mạnh, tệ hơn cả là họ cũng không để lại bất kỳ hậu duệ nào. Điều ấy khiến Tuyên Tông ở những năm tháng tuổi già vẫn phải ngày đêm lo lắng về người kế vị, cuối cùng chọn Hiếu Tông, khi Hiếu Tông mới năm tuổi.

Không ai rõ lý do tại sao vị Lão Hoàng đế đã cao tuổi và không còn nhiều thời gian nữa mà lại chọn một đứa trẻ làm người thừa kế. Theo suy luận của hậu thế, rất có thể là Tuyên Tông lo ngại rằng nếu chọn một người trưởng thành để thừa kế ngôi báu thì Tân Đế sẽ quá để tâm đến việc hiếu kính cha mẹ ruột mà bỏ quên sự cung kính đối với hai người con trai đã chết yểu của bà, điều này đã có tiền lệ từ triều đại trước. Tuyên Tông quyết tâm tự mình bồi dưỡng một người kế vị lý tưởng theo cách riêng của bà.

Chỉ ba ngày sau khi Hiếu Tông chào đời, bà đã ra lệnh đưa bé gái vào cung để tự tay nuôi nấng, và như một người Tổ mẫu thực thụ, bà vô cùng quan tâm đến sự trưởng thành của cô bé. Nhiều ghi chép nội đình cho thấy, không ít lần, khi Tuyên Tông đang thảo luận chính sự với các đại thần, Hiếu Tông bấy giờ còn nhỏ đã ngồi ở một góc phòng, vừa chơi đùa vừa thích thú lắng nghe.

Về mặt tình cảm, Hiếu Tông có phần lạnh nhạt và xa cách với đấng sinh thành chưa từng gặp mặt. Dù về mặt tiền bạc, ngài luôn đối xử rộng rãi và hào phóng với người Thân phụ đã rời xa Kinh thành, song hầu như chưa bao giờ thể hiện sự quan tâm vượt quá giới hạn, cũng chưa từng chủ động tham vấn ý kiến ông về chính sự. Rõ ràng, Hiếu Tông thuở nhỏ đã thân cận và tin tưởng ở các đại thần và thầy dạy do Tuyên Tông sắp đặt hơn chính thân sinh phụ mẫu của mình.

Điều đáng ngạc nhiên là Hiếu Tông dường như xem việc trị quốc là một sở thích thực thụ, gần như là một đam mê, dùng nó để lấp đầy khoảng trống của tuổi thơ đã mất, và đam mê này kéo dài suốt cuộc đời ngài sau này. Người ta vẫn thấy Hoàng đế có tính ôn hoà, trầm ổn và ít nói từ khi còn rất nhỏ tuổi, nhưng thực tế đó chỉ là một quy tắc ngài được học từ khi còn rất nhỏ để thêm vẻ trang nghiêm cho bản thân mà thôi. Về mặt nội tâm, một khi ngài đã quyết tâm đưa ra chủ kiến về một vấn đề nào đó, ngài sẽ tìm mọi cách để có thể bác bỏ từng ý kiến phản đối ngài một cách rành mạch và rõ ràng. Bản tính thận trọng và sự hiếu học của Hiếu Tông lại làm tăng tính thuyết phục và sự uy tín trong lời ngài nói, điều này đóng vai trò vô cùng tích cực cho sự nghiệp chính trị sau này.

Mỗi vị thần tử và thầy dạy tiếp xúc với Hiếu Tông khi nhỏ tuổi đều hết lời ca ngợi cuộc sống cần mẫn khắc kỷ của Hoàng đế, còn Hoàng đế thì luôn luôn lắng nghe và tiếp thu ý kiến của các đại thần, triều đình tưởng chừng cứ thế vận hành theo quỹ đạo ổn định và giữ nguyên nếp cũ từ Tiên đế. Nhưng bước ngoặt thay đổi tất cả đã xuất hiện vào chính cái năm trước khi Hoàng đế thân chính – Hiếu Tông đã rơi vào lưới tình.

Triều thần bỗng thấy ngài tuyên bố sẽ noi gương tổ tiên cưới một người phụ nữ về làm vợ, tuyệt đối sẽ không chọn một người đàn ông từ tầng lớp quý tộc để sinh hạ người kế vị tiếp theo cho triều đại.

Cuộc hôn nhân đồng giới đầu tiên trong Hoàng thất Đại Tề đã xảy ra gần hai trăm năm trước khi Hiếu Tông chào đời: Một nữ Thân vương đã đoạt được ngai vàng của người anh họ, do nàng được ghi chính thức trong văn thư chính thức Hoàng tộc là nam giới, nên để chứng minh tính chính danh cho quyền thừa kế của mình, vị Nữ Đế này đã phá lệ, chọn một người phụ nữ quý tộc có tính cách ôn hoà dịu dàng và uyên bác giàu trí tuệ để làm vợ.

Từ góc nhìn của hậu thế, cuộc hôn nhân này mang lại lợi nhiều hơn là hại cho Quốc gia. Vị Hoàng hậu nổi tiếng thông tuệ ấy đã dùng sự ôn hòa và thận trọng của mình để bù đắp cho tính cách mạnh mẽ và quyết đoán của Nữ Đế, sự tương đắc trong chính trị của cả hai đã giúp Quốc gia thống nhất được các thế lực quân phiệt cát cứ, đáng tiếc, cuộc hôn nhân được người đời xem là vô cùng ân ái này lại có kết thúc không trọn vẹn. Hoàng hậu qua đời vì bệnh tật khi đang cùng Nữ Đế trên đường chinh chiến, cái chết của nàng khiến Nữ Đế gần như phát điên và mất đi lý trí. Tương truyền, Nữ đế từng ra lệnh giết tất cả tù binh để tuẫn táng cho vợ, mãi sau khi được thuộc hạ khuyên can hết lời thì mới rút lại mệnh lệnh. Từ đó về sau, phần đời còn lại của Nữ Đế chìm trong u uất, cũng càng trở nên nghiêm khắc hơn, khiến các con nuôi của nàng luôn phải sống trong nơm nớp lo sợ. Cuối cùng, chúng đã lợi dụng lúc Nữ Đế một mình tế lễ cho người vợ yểu mệnh mà ám sát nàng.

Vụ ám sát này tàn khốc đến mức dân gian lưu truyền một lời đồn rằng, những người đàn ông của Hoàng thất nếu như có được kế vị thì cũng đều đoản mệnh, ấy là do lời nguyền của Nữ Đế lúc lâm chung. Một lời đồn khác thì hoàn toàn trái ngược: Nữ Đế đã khoan dung tha thứ cho tất cả mọi người, không ôm hận thù gì, bởi lẽ đã mất đi người yêu dấu thì đâu còn gì để mà quyến luyến cõi đời nữa?

Xét về kết cục, cuộc đời của Nữ Đế gì là một bi kịch, nhưng ảnh hưởng của nàng đối với Đại Tề lại vô cùng sâu sắc và càng lúc càng lộ rõ theo thời gian.

Ta không thể xác định chính xác Hoàng đế đã học cách trị quốc từ lúc nào, nhưng Hiếu Tông trẻ tuổi quả thực đã thể hiện năng lực và sự trầm ổn hơn người ngay trong cuộc khủng hoảng chính trị đầu tiên. Lúc ấy, ngài vừa mới rơi vào lưới tình với vị Hoàng hậu tương lai. Bài học lịch sử đã để lại, Hiếu Tông rõ ràng đang tự đặt mình vào chiếc bẫy bi kịch tương tự như Tổ tiên.

Do bấy giờ ngài chỉ mới mười lăm, gần như tất cả mọi người đều cho rằng ý tưởng của nàng chỉ là một cơn bốc đồng nhất thời mà thôi.

Sự phản đối của mọi người là đòn chí mạng đối với một người trẻ tuổi mới bước chân vào tình yêu, nhưng Hiếu Tông lại tỏ ra bình tĩnh hơn người thường. Sự bình tĩnh và kiềm chế của Hoàng đế thậm chí khiến một số quan viên bắt đầu nảy sinh ý nghĩ thỏa hiệp, thay vì không ngừng oán than thù hận 'Yêu nữ' đã làm hư tính quân thượng của họ.

Vị Hoàng hậu mà Hiếu Tông chọn cho mình lớn hơn ngài bảy tuổi, là một người phụ nữ uyên bác, lịch thiệp, có tài hoa. Với quyết tâm muốn được ở gần bên cạnh người tình tôn quý của mình, nàng đã đến Kinh thành tham gia kỳ thi Nữ quan của triều đình, một lòng muốn trở thành một lương thần tài giỏi để phò tá Hoàng đế, nhưng lại vô tình vướng vào một âm mưu chính trị – một vị Thân vương tôn quý, cũng là anh ruột của Hiếu Tông, đã vì tư thù với Hiếu Tông mà hãm hại nàng.

Loại độc dược mà hắn ta dùng với nàng lúc bấy giờ được Y học Đại Tề cho là vô phương cứu chữa.

Theo ghi chép chính thức, Hiếu Tông đã xử lý tấn bi kịch này một cách vô cùng kiềm chế. Ngài xử anh trai mình án giam cầm chung thân đúng theo luật, đồng thời gửi nữ quan cùng sứ đoàn vượt biển đi Tây Dương, hy vọng y thuật tiên tiến ở nơi ấy có thể cứu lấy sinh mạng người ngài yêu thương. Chính sự vẫn diễn ra một cách yên bình và đúng theo trật tự, tuy nhiên, mọi người lại âm thầm xầm xì về những dị trạng của Hoàng đế:

Hoàng đế sống một cuộc đời giản dị đến mức khổ hạnh như Tăng lữ, ngài ăn chay, không uống một giọt rượu, chép Kinh thư mỗi ngày, ngày ngày cầu nguyện Thần linh cho người yêu được bình an. Những người cận thần và thân nhân của Hiếu Tông lúc bấy giờ đều tin chắc rằng nếu không để cho ngài có một chỗ dựa tinh thần, thì ngài chắc chắn sẽ bị nỗi buồn rầu trong lòng bức đến suy sụp mà thôi.

Chưởng ấn Loan Nghi ty Thủ phụ Nội Các không hẹn mà cùng cảm nhận được mối đe dọa vô hình đang đến gần hơn với Hiếu Tông – họ nơm nớp lo sợ rằng nếu không có nữ quan họ Cố kia, ngài sẽ sinh bệnh mà chết yểu, nếu không thì cũng sẽ điên loạn mà xuất gia, Đại Tề bấy giờ lại không có bất cứ ai đủ năng lực để kế vị. Nỗi lo sợ ấy ngày một lớn dần, cho đến ngày đại thần đành không hẹn mà cùng mở một mắt nhắm một mắt trước tấu chương tán thành việc lập Hậu mà các thần tử trẻ tuổi mạnh dạn dâng lên để an ủi Hoàng đế.

Quần thần từ trên xuống dưới dần chuyển từ cảm giác bất đắc dĩ thành sự mong mỏi ngày đoàn sứ thần trở về. Cái ngày mà đoàn sứ thần trở về ấy, họ thấy nữ quan xinh đẹp kia bước xuống và nàng hoàn toàn khoẻ mạnh. Khỏi phải nói, chuyện này khiến ai nấy đều vui mừng.

Hoàng hậu là mảnh ghép hoàn hảo để bù đắp cho những thiếu sót của Hiếu Tông. Nàng là một Nho gia mộ đạo, tinh thông văn học và ngôn ngữ, hiểu biết về âm nhạc và thư pháp, nhưng đồng thời cũng theo chủ nghĩa thực tiễn, vô cùng linh hoạt trong cách làm việc. Với tư cách Quốc mẫu và Hoàng hậu của Hiếu Tông, nàng nhân danh Hoàng thất Đại Tề tổ chức nhiều cuộc đàm luận văn học và biên soạn sách kinh điển, điều này làm dịu đi sự bất mãn của các học giả Nho gia, bởi lẽ họ cảm thấy Hoàng đế dường như thờ ơ với Nho học, hứng thú với Tây Dương.

Vị Hoàng hậu cần mẫn chính sự không thua kém Hiếu Tông là bao này còn đích thân ra chỉ dụ thành lập Luận Đạo Đường tại Quốc Tử Giám. Hằng năm, vào tháng Sáu, Đại Tề sẽ tổ chức Giải Kinh Hội tại đây, để cho các Nho gia tề tựu, đưa ra những kiến giải của mình về các đầu sách kinh điển. Các ý kiến thảo luận được tổng hợp lại, Hoàng gia xuất tiền in ấn, phân phát miễn phí cho các Học cung trên khắp quốc gia, làm tài liệu tham khảo cho Sĩ tử trước mỗi kỳ thi.

Dù bận rộn chính sự, Hiếu Tông Hoàng đế và Hoàng hậu Cố thị chưa bao giờ sao nhãng việc giáo dục Hoàng tự. Theo kỳ học, mỗi thầy dạy trong cung đều phải báo cáo trung thực tình hình học tập của các Hoàng tử, Hoàng nữ với Hoàng hậu. Tương tự như vậy, các Hoàng tử, Hoàng nữ dẫu cho phải giữ sự kính cẩn nhất định với Hoàng đế, nhưng bọn trẻ được Hoàng hậu cho phép có thể tùy ý ra vào nơi làm việc của nàng, bất cứ lúc nào cũng có thể yết kiết để hỏi han hay tâm sự, lại được phép tham gia vào một số công việc của nàng.

Mở ra thời thái bình thịnh trị gần như đến cực điểm, những năm cuối đời của Hiếu Tông lại trôi qua vô cùng bình yên và nhẹ nhàng. Sau sáu mươi lăm năm tại vị, Hiếu Tông giao ngôi báu lại cho Hoàng nữ nhỏ tuổi nhất của mình, thoái vị làm Thái thượng hoàng, thoát ly chính sự, chuyên tâm chăm sóc người vợ bị tuổi đã cao. Cuộc hôn nhân viên mãn này kéo dài cho đến tận ngày cuối cùng.

Hoàng Thái hậu qua đời bốn năm sau khi Tân đế lên ngôi, hưởng thọ tám mươi lăm tuổi, sau đó một năm, Thái thượng hoàng cũng băng hà, hưởng thọ bảy mươi chín tuổi.

Khác với hình ảnh một Hoàng đế hiếu chiến, mạnh mẽ mà mọi người tưởng tượng ra, Hiếu Tông là người lý trí, nhẫn nại và ôn hòa. Ngay cả trong những khoảnh khắc huy hoàng rực rỡ nhất, ngài vẫn giữ phong cách giản dị và khiêm cung. Chuyện xưa tích cũ, cho đến nhiều đời sau người ta vẫn say sưa kể về giai thoại ngài tự tay đan áo cho Hoàng hậu Cố thị. Trên thực tế, từ đầu đến cuối, Hiếu Tông hầu như chưa bao giờ thể hiện bất kỳ hứng thú nào với những trò tiêu khiển xa hoa vốn vẫn luôn thịnh hành trong giới quý tộc, và Hoàng hậu của ngài cũng thế.

Giống như lời một Sử quan đã nhận xét: "Hiếu Tông Hoàng đế dường như sinh ra là để dành cuộc đời mình cho việc trị quốc. Đam mê của cả đời ngài cũng chỉ là làm sao để quốc gia được vươn tới đỉnh cao – ở một góc độ nào đó, lời dạy dỗ của Tuyên Tông đã theo ngài suốt cả cuộc đời. Đây có lẽ là lý do tại sao thần dân bấy giờ chọn chữ 'Hiếu' để tưởng nhớ vị Hoàng đế ưa cải cách và chuyên chính này."

Vị Sử quan này hẳn là một trong những người hâm mộ Hiếu Tông, và cũng chẳng lạ, vì những người như vậy rất nhiều. Tuy nhiên, ngay cả những người hâm mộ chân thành nhất của Hiếu Tông cũng không thể vượt qua được người phụ nữ đã kề vai sát cánh, đồng hành bên Hiếu Tông gần như trong suốt toàn bộ thời gian ngài trị vì. Chúng ta phải thừa nhận rằng dù năng lực chấp chính và phẩm đức cá nhân của Hiếu Tông xuất sắc, nhưng để trị vì một đất nước như thế, ắt là có sự hỗ trợ lớn lao của vị Hoàng hậu đứng bên ngài. Bỏ qua cuộc sống hôn nhân riêng tư, cặp đôi cộng sự trên chính trường này đã phối hợp với nhau vô cùng ăn ý, và, cả hai đã có một kết cục viên mãn.

Nội dung chương bạn đang xem bị thiếu. Vui lòng truy cập website https://truyenabc.com để xem nội dung đầy đủ. Cảm ơn bạn đọc!