"Đặt chân lên đường mây, ai nỡ lòng lùi bước?"
Giữa tiết Tam Phục[1], trời nắng như đổ lửa, chẳng có chút gió lùa vào quán trà nhỏ, trong này so với ngoài trời chỉ mát mẻ hơn đôi phần. Hứa Hoan ngồi đã lâu, áo gấm ướt đẫm mồ hôi sau lưng, hắn nâng chén trà, uống hai ngụm, chỉ thấy thứ trà rẻ tiền này chẳng đáng cho vào miệng. Bỗng lại thấy càng thêm bực mình với mấy thư sinh bần hàn đang lảm nhảm ở bàn đối diện.
[1] Tiết khí nắng nóng nhất trong năm, đỉnh của mùa hè.
"Thế này không ổn chút nào." Bên cạnh là Thôi Thành Tú, vốn đã quen sống trong nhung lụa, sức chịu nóng kém, áo vải ướt mồ hôi, mặt mập mạp nhễ nhại, nhận từ tay tiểu nhị chiếc khăn mặt nhúng nước giếng mát để vội vàng lau qua loa. Dễ chịu hơn đôi chút, hắn hạ chất giọng khàn khàn, nói với Hứa Hoan:
"Hôm nay nắng đẹp, kinh thành lại nhiều chỗ vui, sợ gì mấy bần sĩ Giang Nam này không động lòng. Hay chúng ta tìm chỗ nào mát mẻ rộng rãi, để bọn họ vừa ngắm cảnh vừa đàm luận văn chương, Quan gia[2] cũng chẳng trách."
[2] Tôn xưng Hoàng đế, đồng nghĩa với Bệ hạ và Hoàng thượng, thời Tống gọi Quan gia. Ở Việt Nam, thời Trần cũng gọi Quan gia.
"Báo Quốc tự, Thừa Ân tự, hôm nay đều mở đạo tràng phơi kinh." Hứa Hoan nghĩ ngợi rồi lắc đầu, "Nhưng mấy mọt sách này chẳng sùng Phật pháp, chỉ e khó dụ thôi."
"Kìa, không nhẽ Hứa đại nhân đã quên...," Thôi Thành Tú chớp chớp đôi mắt ti hí, "Đi về hướng Bắc tính từ con sông đào hộ thành, chẳng phải Tượng phường và Ngự Mã giám đều đang chuẩn bị lễ luyện voi đó sao! Nơi ấy có Phúc Khánh lâu ngay đối diện sông, phòng trang nhã lại rộng rãi thoáng mát, rượu nồng và thức nhắm thơm ngon, lại là tửu lâu duy nhất ở kinh thành có nước đá lạnh.
Chỗ ấy hợp lắm!"
Hứa Hoan đảo mắt, chưa kịp đáp, Thôi Thành Tú thấy hắn do dự đã hơi sốt ruột, hạ giọng nói tiếp: "Chúng ta chịu nổi thì không nói, chứ Quan gia mà bị nóng nực mệt mỏi, về khó bẩm báo lắm. Ta biết đại nhân lo lắng, ta có ý này. Ngự Mã giám có một cặp voi mẹ con, đợi tới lầu Phúc Khánh, mình sẽ cho cho tượng nô lén dắt voi con tới, voi mẹ tất sẽ dẫn đàn đi theo, chừng nửa giờ sau là cả đàn vào hết Tượng phường.
Lại nói, còn có các huynh đệ Thượng Trực vệ hộ tống bảo vệ, thì còn sợ xảy ra chuyện gì?"
"Đại tổng quản nói phải." Hứa Hoan liếc mắt ra cửa, ra hiệu cho người ôm kiếm ngoài ấy đi báo tin trước, còn mình thì đứng dậy đi tới bàn đối diện, thầm thì bẩm báo mấy câu bên tai Tùy Vương.
Quả nhiên, Tùy Vương vừa nghe, suy nghĩ chốc lát rồi đứng dậy, ôm quyền hành lễ với tất cả những người ngồi xung quanh: "Tương phùng là hữu duyên, ta đã mạo muội đặt một bàn tiệc ở Phúc Khánh lâu rồi, chắc mấy vị ở đây cũng nể mặt, chẳng nỡ từ chối chứ?" Nói rồi cười mấy tiếng, quay lại nói với thiếu nữ trẻ tuổi ngồi phía sau: "Tỷ muội chúng ta hiếm khi gặp được tri kỷ, tất phải tận tình đối đã."
Mấy chuyện này, Hoàng đế xưa nay vốn vẫn nghe Tùy Vương, lúc này liền đứng dậy gật, gật đầu đĩnh đạc, rất có phong phạm: "A tỉ nói phải, hôm nay chúng ta đã phiền nhiễu các vị nhiều, vậy bây giờ để ta đáp lễ."
Mấy nữ tử dự thi Nữ khoa hết sức khiêm cung từ chối đôi lần, cuối cùng cũng không từ chối nổi trước hậu đãi, đành vừa cảm kích vừa thu xếp bút nghiên, cùng bước lên những cỗ xe ngựa mà Hứa Hoan gọi tới.
"Sư phụ ơi." đệ tử của Thôi Thành Tú trả tiền cho quán trà xong đâu đấy mới chạy ra, thấy đoàn người đã đi xa, vội dắt con lừa xám, "Mấy cô nương này keo kiệt quá, ngồi nửa canh giờ mà chỉ uống thứ trà nhạt toẹt, chẳng chịu bỏ tiền gọi trà ngon. Gặp được Quan gia chúng ta hào phóng như vậy, bữa tiệc này ở Phúc Khánh lâu, họ ăn một bữa rồi trả mười bữa cũng chẳng đủ!"
Thôi Thành Tú chỉnh lại chiếc nón rộng vành, lên lưng lừa, chỉ hừ một tiếng: "Đừng có nói tới bữa tiệc, chuyến này có Thượng Trực vệ đích thân đánh xe bảo vệ, có Ngự tiền Tổng quản thân chinh hộ tống
- mấy người này dù có thi trượt thì cuộc đời này coi như cũng đáng sống rồi!"
Nói vậy, nhưng trên mặt hắn không có chút nào là ghét bỏ hay khinh thường. Hoàng đế Đại Tề vị nào vị nấy đều thích vi hành, từ đời Thái Tổ đến nay chưa có vị nào chịu an phận ngồi trong cung cho an yên nhàn tản. Tiên đế sùng Phật, mỗi năm đều cải thành khách hành xương vãng lai đến chùa Báo Quốc để dâng hương, ngồi thiền, ngắm hoa quế. Tân đế mới chín tuổi đã lên ngôi cửu ngũ, ngoan ngoãn ngồi trong cung được năm năm, tới năm nay cuối cùng cũng noi theo cái lệ bạch long ngư phục, cải trang vi hành, trà trộn vào với hội nữ tử đi thi. Những người này được lại gần Quân thượng, chắc có lẽ cũng dính được mấy phần phúc khí trăm năm, nói chẳng ngoa đường công danh đã định. Hắn bật cười, roi quất nhẹ vào mông lừa, lại thì thầm với đệ tử: "Ngươi ngồi hầu bên bàn, thấy Quan gia gần gũi với cô nương nào nhất?"
"A, cô nương mặc bộ váy màu xanh, chính là Cố thị đấy!" Thôi Tam Thuận đáp ngay, "Tùy Vương gia khen văn chương cô ấy mấy lần, nói là có thể đậu đầu bảng Nữ khoa. Còn Quan gia cũng không nói gì nhiều nhưng cũng gật gù tán thưởng, còn hỏi gia cảnh Cố cô nương! Mà tiểu nương tử này xem ra cũng tốt bụng, chu đáo lắm, thấy con đứng hầu mới nói nom con cực khổ quá, bèn tự bỏ tiền túi ra gọi cho con bát nước mơ..."
"Một bát nước mơ mà mua chuộc được ngươi, cái lưỡi ngươi rẻ đến thế à?" Thôi Thành Tú mắng một tiếng, nghe không thấy giận, trong lòng tự có suy nghĩ. Quân thượng là người cẩn thận kín kẽ, tính tình tuy không nóng không lạnh nhưng đối với người dưới trướng xưa nay vẫn luôn rộng lượng không hà khắc. Cố cô nương trẻ tuổi, học thuật uyên thâm, văn hay chữ tốt, tính cách hợp ý Quân thượng, dung mạo lại đẹp. "Thôi được." Hắn suy nghĩ một lát, nói, "Trong những người này, gia cảnh Cố tiểu thư là kém nhất.
Tan tiệc ngươi hãy đưa họ về khách đ**m, rồi mời cô ấy dọn sang lâu viện bên cạnh chỗ chúng ta, cứ bảo là... để cho tiện đàm luận văn chương với Quan gia."
Thôi Tam Thuận ngần ngại: "Nhưng mà... chẳng phải Hứa đại nhân đã nói viện ấy để trống, không cho người ngoài vào ở sao?"
"Người ngoài gì nữa?" Thôi Thành Tú tức giận quát khẽ, rồi hạ giọng giải thích, "Ngươi quên Nữ khoa sinh ra để làm gì rồi sao? Cố tiểu thư văn hay, chữ tốt, dung mạo đẹp đẽ, tính tình tử tế, rõ ràng đủ tiêu chuẩn để vào Loan Nghi cục. Nếu mà được Trịnh Tố để mắt tới tạo điều kiện cho hầu cận Quan gia thì ắt là một bước lên mây! Đến chúng ta tới lúc đó cũng phải khéo léo với người ta đấy, giờ còn đứng đây chê người ngoài sao?"
Thôi Tam Thuận ngộ đạo.
Chẳng rõ duyên cơ do đâu mà Đại Tề, từ thời Thái Tổ đã bắt đầu cục diện âm thịnh dương suy, Đế vị truyền tám đời mà chỉ có hai vị nam Đế, lại có tận sáu vị nữ Đế. Để tránh bất tiện, sau khi Minh Tông đế đăng cơ liền tuyển nữ văn quan tâm phúc chưởng quản Tư Lễ giám, xưng là Loan Nghi ty; lại chọn nữ võ quan trấn giữ Trấn Phủ ty, Thận Hình ty và Cấm vệ, xưng là Loan Nghi cục.
Về sau lại càng rực rỡ chuyện thi cử chiêu hiền, ngoài khoa nam còn cho phép khoa nữ tồn tại, nếu đỗ đạt thì vào Trấn Phủ ty học tập, sau ba năm người thường được ban tước về quê, người đặc biệt giỏi sẽ xuất sĩ tới Loan Nghi ty làm việc. Tuy phần nhiều cũng chỉ là việc văn thư, nhưng cũng tính là cận thần ngự tiền, nếu có vinh dự được Quân thượng sủng ái thì sẽ thành tâm phúc của thiên tử. Đây cũng chính là con đường tắt lên đến tầng mây cao mà những con đường khác không thể so bì.
Chỉ có điều một, đường vào cấm cung sâu tựa biển, đã là nữ quan hầu trước ngự tiền, việc có liên hệ với ngoại triều cũng thành điều cấm kỵ
- thế nên, đã có nhiều người bỏ lỡ tuổi xuân, cả đời ở giá.
"Chà..." Thôi Tam Thuận xoa xoa gáy, giọng nghe ái ngại, "Con nghe giọng của Cố tiểu thư thì thấy nàng ta chỉ muốn được đỗ đạt rồi về quê dạy học, chẳng có tham vọng gì khác. Lại nghe nói nàng đã có hôn ước ở quê nhà từ lâu rồi, nếu chẳng phải vì gia cảnh khó khăn trên có mẹ góa dưới có em nhỏ thì đã thảnh thơi thành hôn từ sớm. Coi như cũng yên bề gia thất, đã thành thân rồi, sao còn có thể ở lâu trong cung?"
Nội dung chương bạn đang xem bị thiếu. Vui lòng truy cập website https://truyenabc.com để xem nội dung đầy đủ. Cảm ơn bạn đọc!